Từ ngày 01/9/2026, Nghị định số 341/2026/NĐ-CP ngày 01/9/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng về hoạt động mật mã dân sự chính thức có hiệu lực. Nghị định tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ, chặt chẽ cho hoạt động mật mã dân sự tại Việt Nam. Qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò của Ban Cơ yếu Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước về mật mật mã dân sự từ công tác kiểm định, cấp phép đến xuất nhập khẩu và đồng hành cùng các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn bảo mật quốc gia.
Từ 01/9/2026: Áp dụng quy định mới về hoạt động mật mã dân sự (Nguồn: Internet)
Cụ thể, Nghị định 341/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; điều kiện kinh doanh; xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; cùng thẩm quyền, hồ sơ và thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan.
Theo đó, sản phẩm mật mã dân sự là sản phẩm phần cứng, phần mềm, tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật và nghiệp vụ mật mã được sử dụng để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước. Bên cạnh đó, dịch vụ mật mã dân sự gồm dịch vụ bảo vệ thông tin sử dụng sản phẩm mật mã dân sự, đánh giá sản phẩm mật mã dân sự và tư vấn bảo mật, an ninh mạng sử dụng các sản phẩm này.
Giấy phép có thời hạn lên tới 10 năm
Để hoạt động hợp pháp, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự thuộc Danh mục quy định tại Nghị định phải được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự. Đồng thời, sản phẩm mật mã dân sự phải được kiểm tra, chứng nhận hợp quy trước khi lưu thông trên thị trường. Theo quy định mới, giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự có thời hạn 10 năm.
Về điều kiện cụ thể, để được cấp phép, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện về nhân sự, cơ sở vật chất và phương án kỹ thuật. Trong đó, doanh nghiệp phải có tối thiểu 2 cán bộ kỹ thuật có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các ngành điện tử – viễn thông, công nghệ thông tin, toán học, an toàn thông tin.
Ngoài ra, doanh nghiệp phải có ít nhất 1 cán bộ quản lý, điều hành có bằng đại học thuộc các ngành nêu trên hoặc có bằng đại học chuyên ngành khác kèm chứng chỉ đào tạo về bảo mật, an toàn thông tin. Doanh nghiệp cũng phải có hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất phù hợp với phạm vi cung cấp sản phẩm, dịch vụ và phương án kỹ thuật đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Quy định chặt chẽ thẩm quyền cấp phép và cơ chế phối hợp liên ngành
Đối với sản phẩm mật mã dân sự thuộc Danh mục sản phẩm xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, doanh nghiệp phải có Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự do Ban Cơ yếu Chính phủ cấp. Giấy phép này có thời hạn 3 năm. Đáng chú ý, danh mục chỉ áp dụng đối với những sản phẩm có mã số HS, mô tả hàng hóa và đặc tính kỹ thuật mật mã trùng khớp với các thông tin tương ứng trong Danh mục.
Mặt khác, Nghị định cũng quy định việc quản lý đối với sản phẩm lưỡng dụng có cả tính năng mật mã dân sự và tính năng an ninh mạng. Theo đó, Bộ Công an cấp giấy phép đối với các sản phẩm này và trước khi cấp phép phải lấy ý kiến bằng văn bản của Ban Cơ yếu Chính phủ về tính năng mật mã dân sự.
Liên quan đến công tác quản lý nhà nước, Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; trong khi đó, Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị Quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền. Riêng đối với các nội dung giao thoa, hai Bộ thống nhất quy chế phối hợp.
Về đối tượng áp dụng, Nghị định số 341/2026/NĐ-CP áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và các chủ thể nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động mật mã dân sự tại Việt Nam.
Nghị định số 341/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026. Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự, Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự đã được cấp trước ngày 01/7/2026 tiếp tục có giá trị sử dụng đến hết thời hạn được ghi trên Giấy phép. Hồ sơ đề nghị cấp mới, sửa đổi, bổ sung Giấy phép đã được Ban Cơ yếu Chính phủ tiếp nhận trước ngày 01/7/2026, nhưng chưa được giải quyết và từ ngày 01/7/2026 đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, thực hiện quy trình, thủ tục, điều kiện theo quy định tại Nghị định này.
Về trách nhiệm thi hành, Nghị định nêu rõ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
